Ninh Bình: Bảo tồn và phát huy giá trị di sản gắn với phát triển du lịch tâm linh bền vững
22/07/2026Ninh Bình là vùng đất có bề dày lịch sử, văn hóa, nơi hội tụ và giao thoa của nhiều lớp văn hóa trong không gian châu thổ sông Hồng.
Trải qua hàng nghìn năm hình thành và phát triển, vùng đất này đã tích tụ một hệ thống di sản đặc biệt phong phú, gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, lễ hội truyền thống, tín ngưỡng, tôn giáo, nghệ thuật dân gian, nghề thủ công truyền thống và tri thức bản địa. Đây không chỉ là nguồn tài sản quý giá cần được bảo vệ, mà còn là nguồn lực quan trọng để xây dựng các sản phẩm du lịch có chiều sâu văn hóa, trong đó du lịch tâm linh là một hướng phát triển có nhiều tiềm năng và lợi thế nổi bật.

Cố Đô Hoa Lư
Nhận diện nguồn lực di sản văn hóa - nền tảng của du lịch tâm linh
Nằm trong vùng văn hóa châu thổ sông Hồng, Ninh Bình là địa phương có bề dày lịch sử cùng hệ thống di sản đa dạng và phân bố rộng khắp. Đặc biệt, dưới các triều Đinh và Tiền Lê, Hoa Lư là kinh đô của quốc gia Đại Cồ Việt, giữ vai trò trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế và văn hóa của đất nước. Sang thời Lý và Trần, vùng đất Ninh Bình tiếp tục giữ vị trí quan trọng trong tiến trình dựng nước và giữ nước, để lại nhiều di tích lịch sử, công trình tôn giáo, tín ngưỡng gắn với các sự kiện, nhân vật và dấu mốc tiêu biểu của dân tộc.
Hệ thống di sản văn hóa của tỉnh có quy mô lớn, phân bố rộng và mang nhiều giá trị lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật, khảo cổ, tín ngưỡng và cảnh quan. Hiện nay, toàn tỉnh có 5.071 di tích được kiểm kê, trong đó có 1.114 di tích đã được xếp hạng, gồm 01 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, 10 di tích quốc gia đặc biệt, 269 di tích quốc gia và 835 di tích cấp tỉnh. Bên cạnh đó, tỉnh có 42 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, 01 di sản được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và 22 hiện vật, nhóm hiện vật được công nhận là Bảo vật quốc gia.
Ninh Bình đồng thời là một không gian văn hóa tâm linh tiêu biểu, nơi hội tụ nhiều trung tâm tôn giáo, tín ngưỡng có quy mô và ảnh hưởng rộng lớn. Trong các giai đoạn Đinh, Tiền Lê, Lý và Trần, vùng đất này giữ vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của Phật giáo dưới các quốc gia Đại Cồ Việt và Đại Việt. Dấu ấn đó được thể hiện qua hệ thống chùa tháp, danh lam và hành cung nổi tiếng như chùa Nhất Trụ thời Đinh; khu danh thắng Chương Sơn, Đọi Sơn gắn với thời Lý; chùa Phổ Minh, hành cung Thiên Trường và hành cung Vũ Lâm dưới thời Trần. Trải qua nhiều biến đổi lịch sử, Ninh Bình ngày nay vẫn tiếp tục khẳng định vị thế là một trong những trung tâm Phật giáo lớn của cả nước, với nhiều cơ sở tự viện có tầm vóc và sức lan tỏa trong nước, quốc tế như chùa Bái Đính, chùa Tam Chúc.
Song song với Phật giáo, đời sống tín ngưỡng dân gian của cộng đồng cư dân đồng bằng Bắc Bộ cũng được duy trì và trao truyền bền bỉ qua nhiều thế hệ. Nổi bật là tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt, được thực hành tại nhiều không gian thờ tự có giá trị lịch sử và văn hóa như quần thể Phủ Dầy, phủ Nấp, đền Dâu, phủ Đồi Ngang, đền Lảnh Giang cùng nhiều di tích liên quan khác. Hệ thống các cơ sở thờ tự này không chỉ đáp ứng nhu cầu tâm linh của cộng đồng mà còn góp phần tạo nên bản sắc văn hóa đặc trưng của vùng đất Ninh Bình.
Những con số trên cho thấy Ninh Bình đang sở hữu một nguồn lực di sản đặc biệt phong phú. Tuy nhiên, giá trị của nguồn lực này không chỉ nằm ở số lượng, mà quan trọng hơn là ở khả năng liên kết giữa các di tích, cảnh quan, lễ hội, tín ngưỡng và thực hành văn hóa cộng đồng. Đây là cơ sở để hình thành các tuyến, điểm và không gian du lịch tâm linh có nội dung đa dạng, vừa đáp ứng nhu cầu chiêm bái, hành hương, vừa tạo điều kiện để du khách tìm hiểu lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật và bản sắc văn hóa địa phương.
Vai trò trung tâm của hệ thống di tích lịch sử - văn hóa
Trong phát triển du lịch tâm linh, các di tích lịch sử - văn hóa giữ vai trò trung tâm, bởi đây là nơi tập trung và lưu giữ trực tiếp những giá trị vật thể, ký ức lịch sử, dấu ấn kiến trúc, không gian thờ tự và truyền thống cộng đồng. Mỗi di tích không chỉ là một công trình kiến trúc hay một địa điểm tham quan, mà còn là một không gian văn hóa sống, nơi các giá trị lịch sử, tín ngưỡng, lễ hội và nghệ thuật dân gian được thực hành, bảo lưu và trao truyền.
Quần thể danh thắng Tràng An là ví dụ tiêu biểu cho sự kết hợp giữa di sản văn hóa và cảnh quan thiên nhiên. Cố đô Hoa Lư gắn với sự hình thành Nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên của dân tộc, là không gian đặc biệt quan trọng để phát triển các sản phẩm du lịch lịch sử - văn hóa - tâm linh. Hành cung Vũ Lâm, hệ thống đền Trần và các di tích thời Trần phản ánh chiều sâu của một giai đoạn lịch sử quan trọng. Núi Non Nước với hệ thống văn bia ma nhai quý hiếm góp phần làm phong phú giá trị văn hóa, văn học và nghệ thuật của vùng đất Ninh Bình.
Bên cạnh đó, các quần thể kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng như Phát Diệm, Bùi Chu, Sở Kiện, Tam Chúc, Phủ Dầy, Trần Thương, Long Đọi Sơn, Cổ Lễ, Hành Thiện... đã tạo nên một hệ thống điểm đến tâm linh có quy mô lớn và giàu bản sắc. Nhiều công trình như chùa Cổ Lễ, chùa Keo Hành Thiện, nhà thờ Hưng Nghĩa, nhà thờ Phạm Pháo, đền Trần Thương, chùa Long Đọi Sơn, đền Thánh Nguyễn, đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng, đền thờ Vua Lê Đại Hành, Nhà thờ đá Phát Diệm, đền Thái Vi... không chỉ có giá trị kiến trúc, nghệ thuật mà còn gắn với những câu chuyện lịch sử, nhân vật, phong tục và niềm tin của cộng đồng.
Chính các di tích lịch sử - văn hóa là hạt nhân để tổ chức không gian du lịch tâm linh. Từ mỗi di tích, có thể mở rộng trải nghiệm sang lễ hội truyền thống, nghệ thuật trình diễn dân gian, ẩm thực, làng nghề, sinh hoạt tín ngưỡng và cảnh quan chung quanh. Vì vậy, bảo tồn, tu bổ, tôn tạo và phát huy đúng giá trị của di tích là điều kiện tiên quyết để phát triển du lịch tâm linh bền vững.

Khu du lịch Tam Chúc
Lễ hội truyền thống và nghệ thuật dân gian làm giàu trải nghiệm tại di tích
Trong không gian của nhiều di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội truyền thống và các loại hình nghệ thuật dân gian là những thành tố quan trọng tạo nên sức sống của di sản. Lễ hội giúp tái hiện ký ức lịch sử, tôn vinh nhân vật được thờ phụng, củng cố mối liên kết cộng đồng và duy trì những nghi lễ, phong tục được trao truyền qua nhiều thế hệ.
Toàn tỉnh hiện có 954 lễ hội, trong đó có 947 lễ hội truyền thống và 07 lễ hội văn hóa; đặc biệt có 21 lễ hội truyền thống được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Trong tổng số các lễ hội trên, có 866 lễ hội được tổ chức thường niên và 88 lễ hội được tổ chức theo chu kỳ 2 năm, 3 năm, 5 năm hoặc theo lệ làng. Nhiều lễ hội tiêu biểu như Lễ hội Hoa Lư, Lễ hội đền Trần, Lễ hội Phủ Dầy, Lễ hội Trần Thương, Lễ hội chùa Bái Đính... được cộng đồng duy trì và tổ chức thường xuyên, góp phần gìn giữ bản sắc, giáo dục truyền thống và tạo điểm nhấn cho hoạt động du lịch.
Cùng với lễ hội, các loại hình nghệ thuật dân gian như Chèo, Xẩm, hát Văn, Ca trù, hát Dậm Quyển Sơn, hát Trống quân, múa rối nước, các làn điệu dân ca, dân vũ của đồng bào dân tộc Mường... có khả năng tạo chiều sâu cho trải nghiệm du lịch. Khi được tổ chức phù hợp tại các di tích, lễ hội, bảo tàng, trung tâm văn hóa hoặc điểm du lịch, những loại hình này giúp du khách tiếp cận di sản bằng âm thanh, trình diễn, ký ức và cảm xúc, thay vì chỉ dừng lại ở việc quan sát công trình kiến trúc.
Vì vậy, cần coi lễ hội và nghệ thuật dân gian là bộ phận hữu cơ của sản phẩm du lịch tâm linh. Việc khai thác phải dựa trên tính chân thực, tôn trọng không gian thiêng và vai trò của cộng đồng; tránh tình trạng sân khấu hóa tùy tiện, đơn giản hóa nghi lễ hoặc biến hoạt động tâm linh thành sản phẩm thương mại thiếu chiều sâu.
Kết nối di tích thành sản phẩm du lịch tâm linh đặc trưng
Từ hệ thống di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội và nghệ thuật dân gian hiện có, Ninh Bình có điều kiện thuận lợi để hình thành các sản phẩm du lịch tâm linh theo tuyến, theo chủ đề và theo vùng văn hóa. Có thể xây dựng các hành trình tìm về Cố đô Hoa Lư và Nhà nước Đại Cồ Việt; hành trình khám phá dấu ấn văn hóa thời Trần; hành trình về các trung tâm Phật giáo; hành trình tìm hiểu Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ; hành trình kiến trúc Công giáo; hoặc các tuyến kết nối danh lam cổ tự, lễ hội, làng nghề và ẩm thực truyền thống.
Điểm cốt lõi là mỗi tuyến, điểm phải được xây dựng trên một câu chuyện văn hóa rõ ràng. Du khách cần được giải thích vì sao di tích có giá trị, nhân vật nào gắn với nơi đó, lễ hội mang ý nghĩa gì, nghi lễ nào đang được thực hành và cộng đồng đã bảo tồn di sản ra sao. Khi có câu chuyện thống nhất, di tích sẽ không còn là điểm dừng rời rạc mà trở thành một phần của hành trình trải nghiệm có chiều sâu.
Việc kết nối Quần thể danh thắng Tràng An, Cố đô Hoa Lư, chùa Bái Đính, Tam Chúc, Phủ Dầy, đền Trần, Trần Thương, Long Đọi Sơn, Nhà thờ đá Phát Diệm và các trung tâm di sản khác có thể hình thành những trục du lịch văn hóa - tâm linh có sức hấp dẫn ở quy mô vùng. Bên cạnh hoạt động tham quan, chiêm bái, các chương trình có thể tích hợp thuyết minh chuyên đề, trình diễn nghệ thuật truyền thống, trải nghiệm lễ hội, tham quan làng nghề, thưởng thức ẩm thực và giao lưu với cộng đồng.
Tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước đối với di sản và hoạt động du lịch
Phát triển du lịch tâm linh phải đặt trong khuôn khổ quản lý nhà nước về di sản văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội, xây dựng, môi trường và du lịch. Trước hết, cần tiếp tục kiểm kê, lập hồ sơ khoa học, xếp hạng, tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị di tích theo đúng quy định, bảo đảm giữ gìn tối đa yếu tố gốc cấu thành di tích, hạn chế việc xây dựng mới hoặc bổ sung các hạng mục không phù hợp với không gian lịch sử, văn hóa.
Đối với các di tích có đông nhân dân và du khách đến chiêm bái, cần chú trọng bảo vệ cảnh quan, giữ gìn vệ sinh môi trường, phòng, chống cháy nổ, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn giao thông, niêm yết giá dịch vụ và xây dựng nếp sống văn minh. Công tác tổ chức lễ hội phải được hướng dẫn theo hướng trang trọng, an toàn, tiết kiệm, đúng nghi lễ truyền thống; kịp thời ngăn chặn các biểu hiện mê tín dị đoan, lợi dụng tín ngưỡng để trục lợi hoặc thương mại hóa không gian tâm linh.
Sở Văn hóa và Thể thao tiếp tục phối hợp với Sở Du lịch, các sở, ngành, địa phương và đơn vị liên quan trong việc rà soát hiện trạng di tích, hướng dẫn tu bổ, bảo quản, tổ chức lễ hội, bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, đào tạo đội ngũ thuyết minh viên và xây dựng nội dung giới thiệu di sản. Đồng thời, cần tăng cường kiểm tra, giám sát việc khai thác di tích phục vụ du lịch, bảo đảm lợi ích từ hoạt động du lịch có sự chia sẻ hợp lý với công tác bảo tồn và cộng đồng địa phương.
Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng và ứng dụng công nghệ
Cộng đồng là chủ thể sáng tạo, thực hành và trao truyền di sản. Vì vậy, mọi hoạt động phát triển du lịch tâm linh cần bảo đảm sự tham gia thực chất của người dân, người trông coi di tích, chức sắc tôn giáo, người thực hành tín ngưỡng, nghệ nhân và các câu lạc bộ văn hóa. Cộng đồng không chỉ cung cấp dịch vụ mà còn là người kể câu chuyện di sản, hướng dẫn nghi lễ, truyền dạy nghệ thuật, bảo vệ cảnh quan và duy trì các giá trị sống của di tích.
Việc tạo sinh kế gắn với di sản có thể được thực hiện thông qua dịch vụ hướng dẫn, lưu trú, ẩm thực, vận chuyển, sản phẩm thủ công, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động trải nghiệm. Tuy nhiên, các sản phẩm và dịch vụ phải được quản lý về chất lượng, giá cả, nguồn gốc và cách thức tổ chức, tránh làm ảnh hưởng đến không gian thiêng và hình ảnh điểm đến.
Cùng với vai trò của cộng đồng, công nghệ số cần được ứng dụng mạnh mẽ trong quản lý và quảng bá di sản. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu số, bản đồ di sản, mã QR, thuyết minh đa ngôn ngữ, kho ảnh, video, bản ghi lễ hội, nghệ thuật dân gian và các sản phẩm tham quan trực tuyến sẽ giúp du khách tiếp cận thông tin chính xác, thuận tiện hơn. Công nghệ cũng hỗ trợ theo dõi lượng khách, quản lý không gian di tích, cảnh báo quá tải và nâng cao hiệu quả truyền thông.
Hướng tới phát triển du lịch tâm linh bền vững
Phát triển du lịch tâm linh bền vững đòi hỏi sự cân bằng giữa bảo tồn và khai thác, giữa nhu cầu của du khách và quyền lợi của cộng đồng, giữa phát triển dịch vụ với bảo vệ không gian thiêng. Di sản phải được coi là nền tảng lâu dài, không phải nguồn tài nguyên có thể khai thác ngắn hạn. Mọi sản phẩm du lịch cần góp phần làm rõ hơn giá trị của di tích, tạo thêm nguồn lực cho bảo tồn và nâng cao nhận thức của xã hội về trách nhiệm gìn giữ di sản.
Với hệ thống di tích lịch sử - văn hóa phong phú, mạng lưới lễ hội rộng khắp, nhiều loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc và sự gắn kết chặt chẽ giữa di sản với cảnh quan thiên nhiên, Ninh Bình có đầy đủ điều kiện để phát triển du lịch tâm linh trở thành một sản phẩm có bản sắc riêng. Trong thời gian tới, ngành Văn hóa và Thể thao tiếp tục phối hợp với các ngành, địa phương, cộng đồng và doanh nghiệp triển khai đồng bộ các giải pháp bảo tồn, tu bổ, số hóa, tổ chức hoạt động văn hóa và xây dựng sản phẩm du lịch.
Khi hệ thống di tích lịch sử - văn hóa được bảo vệ tốt, lễ hội và nghệ thuật dân gian được duy trì đúng bản chất, cộng đồng được trao quyền tham gia và công nghệ được ứng dụng phù hợp, du lịch tâm linh sẽ trở thành cầu nối đưa các giá trị di sản đến gần hơn với công chúng. Qua đó, di sản văn hóa không chỉ được gìn giữ bền vững mà còn trở thành nguồn lực quan trọng góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao vị thế và sức hấp dẫn của Ninh Bình trong giai đoạn mới./.
Hương Thu (Phòng DSVH)
Bài viết khác
- Hội thảo quốc tế xây dựng hồ sơ trình UNESCO vinh danh Di sản thế giới Vân Long - Kim Bảng - Tam Chúc
- Khai mạc Lễ hội truyền thống đền Lảnh Giang - Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
- Nhiều điểm du lịch của Ninh Bình được vinh danh tại VITA Awards 2026
- Đẩy mạnh truyền thông quảng bá hình ảnh Ninh Bình ra nước ngoài
- Infographic: Ninh Bình doanh thu du lịch Ninh Bình 6 tháng đầu năm 2026, ước đạt trên 17.966 tỷ đồng