Chào mừng bạn đến với Website Sở Văn hóa và Thể thao Tỉnh Ninh Bình.

Di sản Văn hóa

ĐÌNH YÊN TRẠCH

Nằm trong vùng đất Cố đô Hoa Lư xưa, nhân dân làng Yên Trạch đã tôn vinh những vị vua của cả hai triều Đinh và Tiền Lê là những phúc thần che chở cho cuộc sống của dân làng.

ĐÌNH NGÔ KHÊ HẠ

Định Quốc công Nguyễn Bặc, Khai quốc công thần nhà Đinh, được nhân dân thờ cúng tập trung tại khu vực ngoại vi phía đông kinh thành Hoa Lư xưa, nay là vùng đất xã Ninh Hòa, huyện Hoa Lư. Tương truyền đây là nơi đặt nhiệm sở của ông và cũng là nơi ông bị vua Lê Đại Hành xử hành quyết sau khi thất bại trong việc giành lại ngôi báu về cho nhà Đinh. Trong số những đền miếu thờ cúng ông, tiêu biểu là đình Ngô Khê Hạ.

ĐỀN KÊ THƯỢNG, KÊ HẠ VÀ MIỄU SƠN

Xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư nổi tiếng với nghề truyền thống đá mỹ nghệ có lịch sử hàng trăm năm. Tại đây còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống, nổi bật là các đình, đền, chùa, miếu cổ, có giá trị văn hóa lịch sử cao, đặc biệt là quần thể đền Tam Thôn: Kê Thượng, Kê Hạ và Miễu Sơn.

Chùa và Động Hoa Sơn

Trong số những di tích liên quan thời kỳ nhà nước Đại Cồ Việt trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, chùa và động Hoa Sơn là một di tích khá đặc biệt, bởi nơi đây tương truyền là nơi nuôi dưỡng ấu chúa Đinh Toàn của nhà Đinh.

Chùa Phong Phú Xã Ninh Giang, huyện Hoa Lư

Chùa Phong Phú còn được gọi là chùa Phú Gia (lấy tên làng xưa đặt tên cho chùa) tọa lạc tại núi Liên Hoa – ngọn núi đứng độc lập có dáng hình như một đóa hoa sen, thuộc thôn Phong Phú, xã Ninh Giang, huyện Hoa Lư. Núi Liên Hoa có núi Voi chầu lại, có ngòi nước như rồng uốn quanh.

Chùa và Động Bàn Long

Chùa và động Bàn Long tọa lạc tại thôn Khê Đầu Thượng, xã Ninh Xuân, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Xã Ninh Xuân, huyện Hoa Lư là một trong những vùng đất cổ của tỉnh Ninh Bình với những chứng tích xa xưa của cấu tạo địa chất. Vết tích của những lần biển tiến, biển thoái còn để lại rõ nét ở nhiều hang động của vùng đất nơi đây.

Đền Cả La Mai

Đền Cả La Mai tọa lạc tại thôn La Mai, xã Ninh Giang, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Ninh Giang là vùng đất cổ, có con người cư trú từ rất sớm (tại đây đã tìm thấy rìu đá có vai ở hậu thời kỳ đồ đá mới và sơ kỳ đồ đồng cách đây 4000 – 5000 năm). Đây cũng là nơi có nhiều di tích lịch sử qua các triều đại.

Chùa Trung Trữ

Chùa Trung Trữ tọa lạc tại xã Ninh Giang, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Ninh Giang là vùng đất cổ, có con người cư trú từ rất sớm (tại đây đã tìm thấy rìu đá có vai ở hậu thời kỳ đồ đá mới và sơ kỳ đồ đồng cách đây 4000 – 5000 năm). Đây cũng là nơi có nhiều di tích lịch sử qua các triều đại.

Nhà Thờ Họ Đào

Di tích tọa lạc tại thôn Đông Trang, xã Ninh An, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Làng Đông Trang, xã Ninh An ra đời từ thời Trần

Đền Đồng Hội Ninh An

Đền tọa lạc tại thôn Đông Hội, xã Ninh An, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Vùng đất địa linh này là nơi có địa thế hiểm yếu đã chứng kiến và tham gia vào nhiều cuộc kháng chiến của đất nước như thời Hai Bà Trưng, thời Trần, thời Quang Trung

TÌM HIỂU THÊM VỀ VỊ THẾ CỦA NHÀ NƯỚC ĐẠI CỒ VIỆT QUA DI SẢN VĂN HOÁ PHI VẬT THỂ QUỐC GIA “TRÒ DIỄN XUÂN PHẢ”

Trò diễn Xuân Phả được công nhận là di sản văn hoá phi vật thể quốc gia năm 2016, là trò diễn có giá trị đặc biệt, được người dân làng Xuân Phả, xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá lưu giữ và trao truyền lại qua các thế hệ từ thế kỷ X đến ngày nay.

Vị trí, vai trò của Nhà nước Đại Cồ Việt trong tiến trình lịch sử dân tộc

Quốc hiệu “Đại Cồ Việt” tồn tại trong lịch sử dân tộc từ năm 968 đến năm 1054, trải qua 3 triều đại: Đinh (968 - 980), Tiền Lê (980 - 1009) và thời kỳ đầu của nhà Lý (1009 - 1054).

Sinh cảnh vùng Kinh đô Hoa Lư trước và sau thế kỷ 10

Hàng loạt những di tích khảo cổ ở hang động, mái đá trong vùng Kinh đô Hoa Lư xưa được phát hiện và nghiên cứu đã cho chúng ta những thông tin để viết nên một câu truyện thú vị về người tiền sử định cư, sử dụng hang động, mái đá, thung lũng đá vôi làm không gian sinh dưỡng cũng như việc họ sống và thích ứng với những biến đổi lớn về khí hậu từ khô lạnh sang nóng ẩm hay từ môi trường lục địa sang môi trường biển cả và ngược lại. Tuy vậy vẫn còn những câu hỏi đặt ra cho các nhà khoa học rằng sự giao lưu và trao đổi giữa những nhóm cư dân sống trong hang động này với những nhóm cư dân khác diễn ra như thế nào? hay thời đại Kim khí cách ngày nay khoảng 4.000 năm liệu những nhóm cư dân cổ còn tiếp tục cư trú trong những thung lũng, mái đá; hang động hay không? Và sự hình thành kinh đô Hoa Lư thế kỷ 10 ở đây diễn ra như thế nào, có liên quan gì với nhau? Sự tiếp tục thích ứng của nhóm cư dân trước bối cảnh môi trường tự nhiên và xã hội ở đây như thế nào đặc biệt khi nó có vai trò là một kinh đô. Và sau khi hết vai trò là một kinh đô thì vùng đất này như thế nào? . Trên cơ sở những thông tin có được qua những phát hiện mới về khảo cổ; qua một số cuộc khai quật các di tích trong và ngoài phạm vi Kinh đô Hoa Lư xưa, qua điều tra khảo sát về sự định cư của một số dòng họ cùng một số di tích chúng ta tạm có câu trả lời cho những vấn đề đặt ra.

Những di vật độc đáo của kinh đô Hoa Lư

Kinh đô Hoa Lư tồn tại trong khoảng thời gian không dài (từ 968 - 1010). Tuy nhiên, với ba triều đại phong kiến tập quyền kế tiếp nhau, kinh đô Hoa Lư (sau là Cố đô Hoa Lư) để lại những di sản văn hoá vô cùng độc đáo. Đó là những bộ sưu tập hiện vật là những vật liệu tham gia xây dựng các cung điện, trang trí tại các kiến trúc tôn giáo mang đậm nét phong cách thời Đinh - Tiền Lê.